Đặng Dung ( 1373 – 1413 ) là con trai trưởng của Quốc công Đặng Tất nhà Hậu Trần. Ông là một thủy sư đô đốc tài ba hiếm có nhưng không gặp thời. Từ lúc cùng cha phò tá Giản Định Đế, Đặng Dung đã là một cánh tay đắc lực cho quân đội nhà Hậu Trần. Trong trận đại chiến Bô Cô cuối năm 1408, Đặng Dung là tổng chỉ huy thủy quân Hậu Trần với chừng chưa tới 1 vạn quân, chỉ trong một ngày đánh tan tác và tiêu diệt hạm đội quân Minh đông đến 2 vạn cùng hàng trăm chiến thuyền, góp phần lập nên kỳ công đại thắng Bô Cô Hãn.
Sau thắng lợi lớn, Giản Định Đế là nghe lời xàm tấu giết chết hai vị công thần Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân làm cho nghĩa quân Hậu Trần bị tổn hại nghiêm trọng về tinh thần chiến đấu.
Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị sau đó rời bỏ Giản Định Đế, về Nghệ An tôn Trần Quý Khoáng lên làm vua, lấy hiệu Trùng Quang Đế tiếp tục cuộc kháng chiến, tước quân quyền của Giản Định ép làm thượng hoàng. Cuộc chiến đấu của nhà Hậu Trần với quân Minh diễn ra ác liệt hàng mấy năm trời, gây ra rất nhiều tổn thất nhân mạng cho quân Minh nhưng dần dần đuối sức trước sự chi viện liên tục của nước Minh. Sau khi tướng Mộc Thạnh bại trận tại Bô Cô không lâu, quân Minh đã được tăng viện thêm 47.000 quân và tướng Trương Phụ sang để tăng cường phối hợp với Mộc Thạnh. Đánh nhau được một thời gian thì Trương Phụ lại về nước năm 1410, rồi lại trở sang đất Việt năm 1411 mang theo một đạo tiếp viện nữa với quân số 24.000 quân. Quân Minh còn được tăng cường liên tục lương thực, tiền của để đắp thành, tuyển ngụy binh rất nhiều. Quân Minh củng cố lực lượng tính luôn ngụy binh thì đông đến mười mấy vạn quân, áp đảo hoàn toàn nghĩa quân nhà Hậu Trần. Song song với việc quân Minh được tiếp viện liên tục thì nghĩa quân Hậu Trần luôn bị tấn công tới tấp bằng lực lượng đông và mạnh của quân Minh nên quân số không thể phát triển quá vài ba vạn, dần dần bị lấn về phía nam. Mặc dù nhà Hậu Trần đã chiến đấu rất bền bỉ, cộng thêm khắp cả nước có hàng loạt các toán nghĩa quân khác khởi nghĩa chống Minh nhưng do sự rời rạc về tổ chức, thiếu hành động thống nhất nên bị quân Minh chia cắt đánh diệt từng nơi. Đến cuối năm 1413 thì nghĩa quân Hậu Trần chỉ còn lại vùng Thuận Châu ( nam Quảng Trị ngày nay ), với lực lượng chỉ còn dưới một vạn quân, thế quân mệt mỏi.
Tháng 10/1413, quân Minh do Trương Phụ, Mộc Thạnh cầm đầu hội quân ở Thuận Châu hàng vạn, hạ quyết tâm tiêu diệt hoàn toàn cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần. Quân Minh tiến đến sông Sái Già, một nhánh của sông Thạch Hãn ( Ái Tử, Quảng Trị ) thì trời tối, bèn dừng quân hạ trại. Trương Phụ cùng thủy quân Minh lập thủy trại giữ dòng sông, còn bộ binh do tướng Hoàng Trung lập trại trên bờ, tạo thế hỗ trợ nhau. Đặng Dung đóng quân gần đó, dò biết quân Minh vừa tới hạ trại liền ngay trong đêm điều động toàn quân tổ chức đột kích quân địch. Quân Đặng Dung chia làm hai cánh, thủy quân dùng thuyền nhỏ, quân bộ có tượng binh trợ chiến bí mật tiếp cận trại giặc, lại cho người hẹn với cánh quân bộ của Nguyễn Súy đến đánh úp quân Minh trên bờ để phối hợp. Nửa đêm, quân của Đặng Dung dùng thuyền nhỏ tắt hết đèn đuốc âm thầm tiếp cận trại giặc, rồi thình lình phóng hỏa đốt thuyền giặc. Tượng binh cũng xông ra đánh, Nguyễn Súy kéo tới phối hợp đánh dữ dội vào cánh quân bộ. Quân Hậu Trần ít hơn quân Minh nhiều lần, chỉ còn biết lợi dụng trời tối mà tiến tới tử chiến, khí thế vô cùng mạnh mẽ. Quân Minh bị bất ngờ, thuyền bè cháy đắm quá nửa, hàng vạn quân giặc bị giết và chết cháy trong chốc lát. Đặng Dung mình cầm gươm xông pha vào giữ thủy trại giặc không ai cản nổi, nhảy sang thuyền soái thuyền quân Minh tìm giết Trương Phụ. Nhưng trời tối quá, Đặng Dung không kịp nhận ra thì Trương Phụ đã nhanh chân nhảy sang thuyền nhỏ khác mà chạy trốn. Quân Minh tan tác rút chạy.
Chiến cuộc đang dằn co thì trời chuyển rạng đông, Nguyễn Súy sợ giặc ỷ đông phản kích nên hạ lệnh cho quân bộ đơn phương rút lui khỏi trận địa. Đặng Dung muốn thừa thắng truy đuổi đến cùng không hề nhận ra cánh quân hiệp đồng của Nguyễn Súy đã rút trước. Binh thuyền, tượng binh của Đặng Dung lúc này qua chiến đấu đã hao hụt, trời sáng hiện ra rõ quân số ít ỏi. Trương Phụ đang tháo chạy, nhận ra quân của Đặng Dung ít liền hô quân quay thuyền phản công. Đặng Dung thế cô lực kiệt, phải lui quân. Quân Hậu Trần trận này tuy giết được nhiều giặc nhưng cũng tổn thất nặng. Quân Minh chết đến phân nửa, thuyền bè bị đốt gần hết nhưng vẫn chiếm ưu thế áp đảo về quân số, thừa cơ đánh chiếm toàn bộ Thuận Châu. Bấy giờ toàn bộ lãnh thổ đã bị mất, nghĩa quân Hậu Trần chỉ còn lẫn trốn nơi núi non. Chừng ba tháng sau, lần lượt các thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa nhà Hậu Trần sa lưới giặc. Tháng 01/1414, trên thuyền áp giải về kinh đô Kim Lăng của nước Minh, Đặng Dung cùng Trùng Quang Đế nhảy sông tuẫn tiết. Nguyễn Súy trước khi nhảy sông chết theo vua còn kịp cướp lấy bàn cờ đánh chết lính canh.
Đánh giá về trận này, sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét rất hay như sau :
“Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không ? Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang, vì sao vậy ?
Bọn Dung vì nghĩa không thể cùng sống với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng, hết sức giúp đỡ Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mơí chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được !
Ngày xưa nước Lỗ đánh nhau với nước Tề ở đất Can Thì bị thất bại, thánh nhân không vì thua mà kiêng né, lại chép rõ để nêu niềm vinh quang chiến đấu với kẻ thù, chứ không bàn đến việc thành bại. Thế thì trận đánh ở Sái Già, quân Minh bị tan vỡ một nửa, quân ta đến khi sức kiệt mới chịu thua cũng vinh quang lắm thay !”
Cuộc khởi nghĩa nhà Hậu Trần thất bại, bao nhiêu anh hùng hào kiệt nước Việt bị giết. Nhưng quân Minh xâm lược cũng không đắc thắng được bao lâu. Chỉ bốn năm sau, Lê Lợi xưng Bình Định vương khởi binh ở Lam Sơn, chiến đấu trường kỳ quét sạch quân Minh khỏi bờ cõi. Số quân tướng giặc Minh làm điều bạo ngược trong quãng thời gian kể từ khi nhà Hồ mất nước đến khi nhà Hậu Trần thất trận đa phần bị giết bởi lưỡi gươm của nghĩa quân Lam Sơn. Nước Việt vẫn trường tồn cùng tên tuổi của những anh hùng dân tộc như Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, Trùng Quang … Dù thất bại, họ mãi mãi là những tấm gương về lòng dũng cảm, yêu nước.
quân Minh cũng bắt hàng vạn thợ thuyền tri thức gái đẹp Đại Việt về. Tính đến lúc viết Bình ngô đại cáo có lẽ khoảng từ 1/3 đến 2/3 dân số Đại việt bị quân Minh giết.????Quân Minh giết hại nhiều nhưng chắc k đến mức đó. Bởi vì thực tế quân Minh chưa bao giờ kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Đại Việt mà chỉ trực tiếp quản lý được khu vực thành Đông Quan và ngoại vi.
TRẬN SÁI GIÀ 1413 – TRƯƠNG PHỤ SUÝT BỊ ĐẶNG DUNG GIẾT
Đặng Dung ( 1373 – 1413 ) là con trai trưởng của Quốc công Đặng Tất nhà Hậu Trần. Ông là một thủy sư đô đốc tài ba hiếm có nhưng không gặp thời. Từ lúc cùng cha phò tá Giản Định Đế, Đặng Dung đã là một cánh tay đắc lực cho quân đội nhà Hậu Trần. Trong trận đại chiến Bô Cô cuối năm 1408, Đặng Dung là tổng chỉ huy thủy quân Hậu Trần với chừng chưa tới 1 vạn quân, chỉ trong một ngày đánh tan tác và tiêu diệt hạm đội quân Minh đông đến 2 vạn cùng hàng trăm chiến thuyền, góp phần lập nên kỳ công đại thắng Bô Cô Hãn.
Sau thắng lợi lớn, Giản Định Đế là nghe lời xàm tấu giết chết hai vị công thần Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân làm cho nghĩa quân Hậu Trần bị tổn hại nghiêm trọng về tinh thần chiến đấu.
Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị sau đó rời bỏ Giản Định Đế, về Nghệ An tôn Trần Quý Khoáng lên làm vua, lấy hiệu Trùng Quang Đế tiếp tục cuộc kháng chiến, tước quân quyền của Giản Định ép làm thượng hoàng. Cuộc chiến đấu của nhà Hậu Trần với quân Minh diễn ra ác liệt hàng mấy năm trời, gây ra rất nhiều tổn thất nhân mạng cho quân Minh nhưng dần dần đuối sức trước sự chi viện liên tục của nước Minh. Sau khi tướng Mộc Thạnh bại trận tại Bô Cô không lâu, quân Minh đã được tăng viện thêm 47.000 quân và tướng Trương Phụ sang để tăng cường phối hợp với Mộc Thạnh. Đánh nhau được một thời gian thì Trương Phụ lại về nước năm 1410, rồi lại trở sang đất Việt năm 1411 mang theo một đạo tiếp viện nữa với quân số 24.000 quân. Quân Minh còn được tăng cường liên tục lương thực, tiền của để đắp thành, tuyển ngụy binh rất nhiều. Quân Minh củng cố lực lượng tính luôn ngụy binh thì đông đến mười mấy vạn quân, áp đảo hoàn toàn nghĩa quân nhà Hậu Trần. Song song với việc quân Minh được tiếp viện liên tục thì nghĩa quân Hậu Trần luôn bị tấn công tới tấp bằng lực lượng đông và mạnh của quân Minh nên quân số không thể phát triển quá vài ba vạn, dần dần bị lấn về phía nam. Mặc dù nhà Hậu Trần đã chiến đấu rất bền bỉ, cộng thêm khắp cả nước có hàng loạt các toán nghĩa quân khác khởi nghĩa chống Minh nhưng do sự rời rạc về tổ chức, thiếu hành động thống nhất nên bị quân Minh chia cắt đánh diệt từng nơi. Đến cuối năm 1413 thì nghĩa quân Hậu Trần chỉ còn lại vùng Thuận Châu ( nam Quảng Trị ngày nay ), với lực lượng chỉ còn dưới một vạn quân, thế quân mệt mỏi.
Tháng 10/1413, quân Minh do Trương Phụ, Mộc Thạnh cầm đầu hội quân ở Thuận Châu hàng vạn, hạ quyết tâm tiêu diệt hoàn toàn cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần. Quân Minh tiến đến sông Sái Già, một nhánh của sông Thạch Hãn ( Ái Tử, Quảng Trị ) thì trời tối, bèn dừng quân hạ trại. Trương Phụ cùng thủy quân Minh lập thủy trại giữ dòng sông, còn bộ binh do tướng Hoàng Trung lập trại trên bờ, tạo thế hỗ trợ nhau. Đặng Dung đóng quân gần đó, dò biết quân Minh vừa tới hạ trại liền ngay trong đêm điều động toàn quân tổ chức đột kích quân địch. Quân Đặng Dung chia làm hai cánh, thủy quân dùng thuyền nhỏ, quân bộ có tượng binh trợ chiến bí mật tiếp cận trại giặc, lại cho người hẹn với cánh quân bộ của Nguyễn Súy đến đánh úp quân Minh trên bờ để phối hợp. Nửa đêm, quân của Đặng Dung dùng thuyền nhỏ tắt hết đèn đuốc âm thầm tiếp cận trại giặc, rồi thình lình phóng hỏa đốt thuyền giặc. Tượng binh cũng xông ra đánh, Nguyễn Súy kéo tới phối hợp đánh dữ dội vào cánh quân bộ. Quân Hậu Trần ít hơn quân Minh nhiều lần, chỉ còn biết lợi dụng trời tối mà tiến tới tử chiến, khí thế vô cùng mạnh mẽ. Quân Minh bị bất ngờ, thuyền bè cháy đắm quá nửa, hàng vạn quân giặc bị giết và chết cháy trong chốc lát. Đặng Dung mình cầm gươm xông pha vào giữ thủy trại giặc không ai cản nổi, nhảy sang thuyền soái thuyền quân Minh tìm giết Trương Phụ. Nhưng trời tối quá, Đặng Dung không kịp nhận ra thì Trương Phụ đã nhanh chân nhảy sang thuyền nhỏ khác mà chạy trốn. Quân Minh tan tác rút chạy.
Chiến cuộc đang dằn co thì trời chuyển rạng đông, Nguyễn Súy sợ giặc ỷ đông phản kích nên hạ lệnh cho quân bộ đơn phương rút lui khỏi trận địa. Đặng Dung muốn thừa thắng truy đuổi đến cùng không hề nhận ra cánh quân hiệp đồng của Nguyễn Súy đã rút trước. Binh thuyền, tượng binh của Đặng Dung lúc này qua chiến đấu đã hao hụt, trời sáng hiện ra rõ quân số ít ỏi. Trương Phụ đang tháo chạy, nhận ra quân của Đặng Dung ít liền hô quân quay thuyền phản công. Đặng Dung thế cô lực kiệt, phải lui quân. Quân Hậu Trần trận này tuy giết được nhiều giặc nhưng cũng tổn thất nặng. Quân Minh chết đến phân nửa, thuyền bè bị đốt gần hết nhưng vẫn chiếm ưu thế áp đảo về quân số, thừa cơ đánh chiếm toàn bộ Thuận Châu. Bấy giờ toàn bộ lãnh thổ đã bị mất, nghĩa quân Hậu Trần chỉ còn lẫn trốn nơi núi non. Chừng ba tháng sau, lần lượt các thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa nhà Hậu Trần sa lưới giặc. Tháng 01/1414, trên thuyền áp giải về kinh đô Kim Lăng của nước Minh, Đặng Dung cùng Trùng Quang Đế nhảy sông tuẫn tiết. Nguyễn Súy trước khi nhảy sông chết theo vua còn kịp cướp lấy bàn cờ đánh chết lính canh.
Đánh giá về trận này, sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét rất hay như sau :
“Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không ? Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang, vì sao vậy ?
Bọn Dung vì nghĩa không thể cùng sống với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng, hết sức giúp đỡ Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mơí chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được !
Ngày xưa nước Lỗ đánh nhau với nước Tề ở đất Can Thì bị thất bại, thánh nhân không vì thua mà kiêng né, lại chép rõ để nêu niềm vinh quang chiến đấu với kẻ thù, chứ không bàn đến việc thành bại. Thế thì trận đánh ở Sái Già, quân Minh bị tan vỡ một nửa, quân ta đến khi sức kiệt mới chịu thua cũng vinh quang lắm thay !”
Cuộc khởi nghĩa nhà Hậu Trần thất bại, bao nhiêu anh hùng hào kiệt nước Việt bị giết. Nhưng quân Minh xâm lược cũng không đắc thắng được bao lâu. Chỉ bốn năm sau, Lê Lợi xưng Bình Định vương khởi binh ở Lam Sơn, chiến đấu trường kỳ quét sạch quân Minh khỏi bờ cõi. Số quân tướng giặc Minh làm điều bạo ngược trong quãng thời gian kể từ khi nhà Hồ mất nước đến khi nhà Hậu Trần thất trận đa phần bị giết bởi lưỡi gươm của nghĩa quân Lam Sơn. Nước Việt vẫn trường tồn cùng tên tuổi của những anh hùng dân tộc như Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, Trùng Quang … Dù thất bại, họ mãi mãi là những tấm gương về lòng dũng cảm, yêu nước.
quân Minh cũng bắt hàng vạn thợ thuyền tri thức gái đẹp Đại Việt về. Tính đến lúc viết Bình ngô đại cáo có lẽ khoảng từ 1/3 đến 2/3 dân số Đại việt bị quân Minh giết.????Quân Minh giết hại nhiều nhưng chắc k đến mức đó. Bởi vì thực tế quân Minh chưa bao giờ kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Đại Việt mà chỉ trực tiếp quản lý được khu vực thành Đông Quan và ngoại vi.