Hào Khí Thanh Nghệ

Hào Khí Thanh Nghệ

Binh nghiệp hai xứ Thanh Nghệ – Võ công và hung khí

Nước ta nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Á, có vị trí đắc địa về thương mại lại có đất đai màu mỡ, sản vật phong phú. Tuy nhiên điều này không hẳn là phúc, trái lại nhiều khi là đại họa. Dân tộc ta từ thời lập quốc đến nay luôn là miếng mồi khiến các cường quốc thèm thuồng. Đất đẹp nhưng ít khi được yên ổn làm ăn. Bởi vậy, để tồn tại thì người Việt tất yếu phải trở thành một dân tộc chiến binh. Người Việt ở mọi vùng miền đều có truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm, khắp các địa danh hầu như đều có ghi danh những anh hùng, nghĩa sĩ.

Thời Lý – Trần trở về trước, nước Đại Việt chủ yếu lấy thân binh từ miền đông nam Thăng Long và vùng ven biển bao gồm các lộ Hoàng Giang ( nay là Hà Nam ), Hải Đông ( Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương ), Kiến Xương ( Thái Bình ), Hồng ( Hải Dương ), Khoái ( Hưng Yên ), Thiên Trường ( Nam Định ), Trường Yên ( Ninh Bình ). Bởi vì thời ấy các xứ này phát triển nghề nông và ngư nghiệp, dân chúng quen với nghề sông biển nên có tố chất trở thành những thủy quân giỏi. Lại thêm có những nơi là quê hương của hoàng tộc. Trường Yên là quê gốc của nhà Đinh, nhà Tiền Lê. Thiên Trường là quê gốc của nhà Trần. Các hiệu quân được coi như “quốc bảo” là Thần Vũ, Thần Sách, Thiên Thuộc, Thiên Cương, Tả hữu Thánh Dực … đều lấy từ các xứ ấy.

Binh lính xứ Thanh Nghệ ( bao gồm Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay ) nổi lên muộn hơn, vào khoảng thời Hậu Trần trở về sau, đến nay thì trở thành xứ đi đầu về binh nghiệp. Dẹp giặc giã cứu nước, gây binh đao loạn lạc phần nhiều từ hai xứ này mà ra. Tuy nhiên, xứ Thanh Nghệ vốn từ lâu đã là đất dụng võ.

Về mặt địa lý, vùng Thanh Nghệ tự nhiên đóng vai trò là một hậu phương và trung tâm dự phòng cho các triều đại trong chiến tranh với giặc phương bắc trong trường hợp trung tâm chính là đồng bằng sông Hồng bị tàn phá. Thanh Hóa có đồng bằng sông Mã tương đối trù phú, có thể dùng sức sản xuất của xứ này để nuôi quân. Đất xứ Thanh phía tây là núi, phía đông nhìn ra biển, giữa là đồng bằng nên tiến thủ đều tiện. Nghệ An đất rộng, dân đông nhưng ruộng xấu, dân chúng quen chịu đựng gian khổ nên có thể lấy nhân lực ở đây bổ sung lực lượng. Thời bắc thuộc, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa xuất phát từ vùng Thanh Nghệ như khởi nghĩa Bà Triệu, khởi nghĩa Mai Thúc Loan, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền. Thời nhà Trần, quan quân triều đình đã phải lui về Thanh Hóa để tránh mũi nhọn của giặc, rồi dùng nhân lực, vật lực xứ này mà khôi phục sức mạnh, đánh bại được quân Nguyên.

Thời Hậu Trần, Giản Định đế và Trùng Quang đế phần lớn dùng binh lực Thanh Nghệ để chống quân Minh mấy năm trời trước khi bị diệt do sự tiếp viện liên tục từ nước Minh. Sang đến thời Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, thì xứ Thanh Nghệ quả thực trở thành nòng cốt trong việc khôi phục đất nước. Học giả Bùi Dương Lịch ( 1757 – 1828 ) đã nói về binh lính xứ Nghệ như sau :

“Binh lính Nghệ An ngày xưa gọi là thắng binh, khéo dùng thì đủ để trở nên vô địch trong thiên hạ. Xét ra cũng không phải họ dũng mãnh quả cảm hơn người, mà chỉ vì họ quen sự cần cù, gian khổ, sợ lệ tục luật pháp, thân với người trên và liều chết vì bậc trưởng, chỉ có thế thôi. Triều Lê khi sáng nghiệp và trung hưng, đều dùng sức quân Nghệ An, rất có hiệu quả. Thời gần đây, triều đình thấy xứ ấy đất xấu, dân nghèo, không bắt xuất của, chỉ bắt xuất lực và đối xử hết sức tươm tất”.

Trải mấy trăm năm phục vụ nhà Lê, những dòng họ võ biền xứ Thanh Nghệ đã phát triển thành các thế lực quân phiệt lớn, thao túng cả triều đình. Thân binh vùng Thanh Nghệ được dung túng quá mức, trở thành kiêu binh. Các kiêu binh hãn tướng đã góp phần làm suy yếu nhà Lê, dẫn đến diệt vong và đẩy đất nước vào nội chiến. Học giả Phan Huy Chú đã mô tả quá trình phát triển của quân phiệt xứ Thanh Nghệ từ thời Lê Lợi đến thời chúa Trịnh Khải ( chúa ở ngôi cuối cùng của họ Trịnh ) :

“ … Nhà Lê nổi dậy ở Thanh Hóa, chuyên nhờ sức nội binh, tình hình có khác đời trước. Lúc mới khai sang chỉ dùng quân ngũ mấy xứ Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa. Sau khi bình Ngô mới đặt binh ngũ phủ cho cả nước. Thời Trung Hưng chỉ lấy binh lính ở 3 phủ xứ Thanh Hoa và 12 huyện xứ Nghệ An. Sau khi diệt Mạc mới có ngạch nhất binh ở bốn trấn. Vì hai xứ Thanh Nghệ là nơi căn bản, binh hai xứ ấy đã cùng chịu gian lao nên được coi thân như nanh vuốt, đối đãi như ruột thịt. Ưu binh được coi trọng hơn nhất binh, bởi sự thế lúc bấy giờ phải thế.

Nhưng quân lính cậy công mà coi thường pháp luật, được nuôi lâu ngày mà sinh ra thói kiêu. Từ khoảng giữa thời trung hưng về sau, quân lính càng khó kiềm chế.

– Nào giết quân chấp chính để hả giận : Gia Tông [ thời vua Lê Gia Tông – chúa Trịnh Tạc ], năm Dương Đức thứ 2 [ 1673 ], quân tam phủ cho rằng sự cất nhắc kém trước, bèn nổi loạn, giết bồi tụng Nguyễn Quốc Trinh, đốt nhà Phạm Công Trứ rồi cướp của.

– Nào phá nhà quan tướng quốc để cướp của : Hiển Tông [ thời Lê Hiển Tông – chúa Trịnh Doanh ], năm Cảnh Hưng thứ 2 [ 1741 ], ưu binh lấy cớ tham tụng Nguyễn Quý Cảnh ức chế những kẻ được cất nhắc không hợp lệ, bèn cùng nhau đến phá nhà Quý Cảnh, cướp hết của cải. Kiêu lộng quen thói đã lâu, không ngăn cấm được.

Đến cuối đời Cảnh Hưng, giúp Đoan vương [ Trịnh Khải ] lên làm chúa, lại càng cậy công, coi thường phép nước, không còn kỷ luật gì nữa. Hễ trừng mắt là các quan khiếp sợ. Bấy giờ quân lính kiêu lộng, thỉnh cầu không có chừng mực. Các đại thần, người nào không vừa ý họ một chút, tức thì họ rủ nhau đến phá nhà đuổi đi. Các quan trong triều không biết xử lý ra sao. [ Kiêu binh ] thét một tiếng là trong cung khóc van. Quân lính nói rõ rằng muốn giết người cậu của chúa, thái phi phải ra khóc, xin bỏ tiền chuộc mạng, chúng mới thôi. Đến nỗi thể thống trong triều ngày một lụn bại, kẻ địch bên ngoài ngày một mạnh lên. Cho nên khi quân miền Nam [ quân Tây Sơn ] kéo ra, thì kinh thành không giữ được nữa.

Tôi từng xét, nhà Lê dựng nên cơ nghiệp là nhờ sức mạnh của binh hai xứ, mà khi mất nước cũng bởi bọn kiêu binh tam phủ gây nên. Nhờ binh ấy mà lên, cũng vì binh ấy mà mất.”

Do có nhiều quân công, xứ Thanh Nghệ kể từ thời Lê trở về đây có nhiều dòng tộc lớn. Những dòng tộc danh giá không chỉ hướng con em theo binh nghiệp mà còn khuyến khích khoa cử, học hành để làm quan. Do đó, hai xứ này sản sinh ra nhiều vua chúa, quân phiệt, quan lại, danh nhân. Vua Lê, Chúa Trịnh, chúa Nguyễn đều có quê Thanh Hóa.

Đào Duy Từ – quân sư kiệt xuất của chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã từng phát biểu trong cuốn binh pháp Hổ Trướng Khu Cơ : “Binh là hung khí, bấc đắc dĩ mới dùng đến”. Quả thực xứ Thanh Nghệ là đất dụng binh, nhưng đã mang hung khí khá nặng. Điều này hoàn toàn không phải là siêu hình hay mê tín. Về mặt tự nhiên, rõ ràng dân xứ Thanh Nghệ nhiều đời không được sung túc như các vùng khác nhờ kinh tế. Dân hai xứ này, hoặc theo nghiệp binh đao, hoặc tha hương cầu thực, hoặc làm nông nghiệp với đời sống bấp bênh cho nên họ rất mẫn cảm với thời cuộc. Những xáo trộn, suy thoái trong xã hội, nhất là kinh tế sẽ tác động mạnh đến dân Thanh Nghệ hơn các vùng khác. Vì vậy, họ dễ trở thành người của các cuộc cách mạng và bạo loạn. Và một khi xứ Thanh Nghệ có loạn, thì khó dập nhất bởi nằm tương đối xa trung tâm quyền lực chính là Thăng Long. Nếu nói dân Thanh Nghệ có truyền thống quật cường đánh đuổi ngoại xâm, truyền thống làm cách mạng là chưa đúng. Thực tế, dân Thanh Nghệ có xu hướng chống lại bất cứ chính quyền nào. Chúng ta có thể nghiệm lại lịch sử để thấy điều đó. Hầu như các triều đại lớn của nước ta đều tốn nhiều công lao đánh dẹp khởi nghĩa, bạo loạn ở vùng này. Nhất là cuối thời Lê – Trịnh, các lãnh tụ khởi nghĩa lớn như Hoàng Công Chất, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Diên … đều tụ về đây.

Đến thời Pháp thuộc, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh một lần nữa minh chứng cho truyền thống xứ Nghệ. Nếu chính quyền ( bất kể độc lập hay đô hộ ) có sự suy thoái, xứ Thanh Nghệ thường là nơi phản kháng mãnh liệt nhất. Sang thời chống Pháp, chống Mỹ thì xứ Thanh Nghệ là một trong những nơi cung cấp nhân lực tích cực nhất cho chiến tranh. Khi quan hệ Việt – Trung trở nên căng thẳng, Tổng bí thư Lê Duẩn từng nói : ” Nếu giặc đến từ phương Bắc, hậu phương trực tiếp của cả nước sẽ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… Hậu phương trực tiếp để bảo vệ Thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Ta sẽ đánh bằng nhiều cách… “. Một lần nữa, vai trò hậu phương trong chiến tranh của Thanh Nghệ lại được nhấn mạnh.

Ngày nay, dân xứ Thanh Nghệ tỏa đi làm ăn khắp nơi trên đất nước. Tiếng tốt, tiếng xấu để lại nhiều nơi. Nhưng đáng buồn là … tiếng xấu thì nhiều hơn. Là do đâu ? Theo cá nhân tác giả bài viết này có các nguyên nhân sau :

– Do xung đột tính cách. Xứ Nam Bộ lịch thiệp hào hoa, xứ Bắc Hà nổi danh thanh lịch mà người miền trung thì đa phần hà tiện, thô kệch. Người Nghệ An lại có kiểu đi đến đâu cứ tập trung lại thành băng nhóm “quê choa”. Cứ hay bênh vực nhau bất kể đúng sai. Đức tính này, dân Nam Bộ đặc biệt ghét. Còn nhiều thứ xung đột tính cách nữa, kể ra không xuể.

– Do mặt bằng dân trí thấp. Vì dân trí thấp nên ngắn nghĩ. Làm việc gì không suy tính thiệt hơn. Những chuyện từ mua gian bán lận, tụ tập đánh nhau đến cướp giết hiếp, không việc gì dân Thanh Nghệ không nức tiếng. Mà bởi trước đã có tiếng xấu, nên phàm việc gì phạm lỗi nhỏ dân tình các xứ cũng xé ra to, xấu lây cả xứ. Bởi những nơi dân Thanh Nghệ hay đến lập nghiệp là những nơi có mặt bằng dân trí cao hơn rõ rệt ( Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Đà Nẵng … )

Nhưng nhân dân cả nước chỉ thấy phần dễ thấy ( tất nhiên ), còn phần thầm lặng thì chưa được nhìn nhận. Ở các vùng biên giới, hải đảo lính gốc Thanh Nghệ chiếm tỉ lệ cao nhất. Nhất là ở Trường Sa, đi đâu cũng nghe cái giọng ngang phè phè xứ Nghệ.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *