CHIẾN TRANH ĐẠI VIỆT – MƯỜNG AI LAO năm 1335

CHIẾN TRANH ĐẠI VIỆT – MƯỜNG AI LAO năm 1335 – Cái chết của danh thần nước Đại Việt và chiến công của thượng hoàng Trần Minh Tông

Xứ Ai Lao ( Lào ) trước thời điểm Pa Ngừm thành lập Vương quốc Lan Xang thì là một tập hợp các Mường ( tiểu quốc hay bộ tộc ) không thống nhất. Sử Việt đôi lúc vẫn gọi là nước Ai Lao nhưng thực chất chỉ là các bộ lạc riêng lẻ trong xứ Ai Lao mà thôi. Các Mường Ai Lao đều có tù trưởng riêng, quân đội riêng và thường chịu lệ thuộc một trong những thế lực mạnh trong khu vực bấy giờ là đế quốc Khmer, Sukhothai, Lan Na, Đại Việt.

Tại một số khu vực mà ngày nay là huyện Tương Dương, huyện Kỳ Sơn nằm ở vùng núi phía tây Nghệ An thuộc lãnh thổ nước Việt Nam, trong thời nhà Trần là vùng ki mi ( ràng buộc lỏng lẻo bằng việc cống nạp ). Phía tây vùng này là Mường Xiêng Khoảng ( Mường Puan ). Xiêng Khoảng có lực lượng tượng binh thiện chiến, tù trưởng của mường này theo ghi chép của sử Việt tên là Bổng. Khi Xiêng Khoảng trở nên hùng mạnh đã bắt đầu lăm le tranh giành ảnh hưởng với Đại Việt ở các vùng phía tây Nghệ An. Quân Xiêng Khoảng đánh vào Nam Nhung ( huyện Tương Dương ), thuộc ấp của Đại Việt, đóng quân tại đầu nguồn sông Tiết La ( sông Lam ). Bấy giờ tại Đại Việt Thượng hoàng Trần Minh Tông là người nắm quyền bính. Mùa thu năm 1335, Thượng hoàng Trần Minh Tông thân chinh đánh Xiêng Khoảng.

Bấy giờ Thượng hoàng đang đau mắt, quần thần Đại Việt hết sức căn ngăn. Thượng hoàng nói : “Năm ngoái định thân chinh rồi không được, năm nay lại vì đau mắt mà hoãn việc xuất quân, thiên hạ sẽ bảo ta là nhát. Nếu giặc phương Bắc xâm lấn thì ta còn nhờ cậy vào đâu ?”. Nói xong bèn quyết chí thân chinh, bệnh dần thuyên giảm.

Kinh lược sứ Nghệ An kiêm Quản lĩnh quân Thần Vũ, Thần Sách là Đoàn Nhữ Hài được phong Đốc tướng, chỉ huy các quân. Nội mật viện phó sứ Nguyễn Trung Ngạn được phong chức Phát vận xứ Thanh Hóa, đem quân đi trước để điều động quân lương. Trần Minh Tông đem đại quân đi sau. Trong khi Thượng hoàng Trần Minh Tông chuẩn bị xuất quân thì Quản lĩnh quân Khoái Hộ là Đỗ Thiên Hư đang bệnh nặng, Thượng hoàng cho ở lại điều dưỡng. Thiên Hư sai người nhà khiêng đến tận cửa điện Vĩnh An cầu xin được theo quân, nói với Thượng hoàng Trần Minh Tông : “Thần thà chết ngoài cửa quân dinh chớ không muốn chết trong giường đệm”. Thượng hoàng khen ngợi và Đỗ Thiên Hư đi theo.

Quân Đại Việt đến Nghệ An, Thượng hoàng Trần Minh Tông lại tái phát bệnh đau mắt, phải giao phần nhiều việc quân cho Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài trông coi. Đoàn Nhữ Hài cậy quân tinh nhuệ, bàn với các tướng : “Ai Lao đóng giữ ở ấp Nam Nhung, quân của chúng vừa ít vừa yếu, quân ta đánh thế nào cũng được. Vả lại, đồn trại của chúng đóng liền con sông lớn Tiết La, sau khi ta đã đánh thắng rồi, sẽ đem tù binh bắt được và chiến lợi phẩm tước được đi theo dòng sông mà kéo tràn xuống, đi đến đâu sẽ diễu võ dương uy, nhân đó chiêu dụ các nước Chiêm Thành, Chân Lạp vào chầu, như thế có thể lập được công lao phi thường.”

Nghĩ như thế, Đoàn Nhữ Hài đem quân bản bộ gồm hiệu quân Thần Vũ cùng lộ quân Nghệ An tiến đánh địch. Đến ấp Nam Nhung, hai quân bày trận thì trời chuyển sương mù dày đặc. Quân Xiêng Khoảng đặt voi ngựa mai phục trong rừng, đem quân đánh nhử một hồi bèn giả thua. Đoàn Nhữ Hài vốn khinh địch, thúc quân đuổi theo lọt vào ổ mai phục của địch. Quân Xiêng Khoảng chỉ chờ có thế, thúc tượng binh, kỵ binh hai cánh đánh xáp lại. Quân Đại Việt thua to chạy ngược ra bờ sông Tiết La, bị đuổi dồn xuống sông chết đuối rất nhiều. Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài cũng bị chết đuối. Hiệu quân Thần Vũ tinh nhuệ hầu như bị xóa sổ. Xác Đoàn Nhữ Hài và quân lính Đại Việt được dân trong vùng vớt được, lập đền thờ phụng. Nay là Đền Vạn – Cửa Rào.

Đoàn Nhữ Hài là một danh thần của triều đình Đại Việt, làm quan trải ba đời vua Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông. Ông là một người tài giỏi, siêng năng. Nay vì thói tham công, khinh địch mà gặp nạn. Thượng hoàng Trần Minh Tông hay tin Đoàn Nhữ Hài tử trận rất thương xót, nói rằng : “Nhữ Hài dùng mưu tất thắng thừa kế tất thắng, công đã gần thành, cuối cùng bị giặc nhử mồi. Nhữ Hài không phải không biết tình thế của giặc, chỉ vì muốn làm to quá mới đến nỗi vậy. Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được”.

Mặc dù mất đi Đoàn Nhữ Hài và bị hao tổn binh lực, quân Đại Việt vẫn còn rất đông và mạnh. Bấy giờ uy danh Đại Việt rất lớn vì đã ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, các nước phương nam đều nể sợ. Biết tin Đại Việt kéo quân rầm rộ, các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, Tiêm La ( Sukhotai ) đều gởi sứ giả đến tặng cống phẩm để mong hòa hiếu. Ngoài ra các mường Ai Lao cũng đua nhau đến chầu, cống nạp. Thượng hoàng Trần Minh Tông đem quân đến đóng tại Mật Châu ( huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An ngày nay ), điều động quân các mường phối hợp với quân Đại Việt, thanh thế rất lớn. Đỗ Thiên Hư bệnh nặng vẫn đòi đi theo quân, ra khỏi châu Nghệ An thì chết. Thượng hoàng thương lòng trung dũng, gia ơn cho dùng nhạc Thái Thường (2) để tế.

Liên quân của Đại Việt đông và mạnh hơn địch rất nhiều. Đánh chẳng bao lâu, rốt cuộc quân Xiêng Khoảng cũng không chống nổi phải rút chạy. Quân Đại Việt ngại rừng thiêng nước độc, không truy kích quá sâu về phía tây, chỉ dẹp yên bờ cõi mà thôi. Trần Minh Tông sai Nguyễn Trung Ngạn khắc chữ vào núi Thành Nam ( thuộc huyện Con Cuông, Nghệ An ngày nay ) ghi công rồi rút quân về.

Bia đá khắc rằng :

“Hoàng Việt (1), triều nhà Trần, vua trị vì thứ 6, là Chương Nghiêu Văn Triết thái thượng hoàng đế, được trời thương yêu cho thống trị đất đai rộng lớn, các nơi xa gần, đâu đâu cũng thần phục. Thế mà Ai Lao là một nước nhỏ mọn, dám ngang ngạnh giáo hóa triều đình. Năm Ất Hợi, tháng quý thu ( tháng 9 âm lịch ), hoàng đế thân đem sáu quân đi tuần thú đến biên thùy mặt tây, thì thế tử Chiêm Thành và nước Chân Lạp, nước Tiêm, đạo thần tù trưởng Mán là Quỳ Cầm, Xa Lặc, những bộ lạc mới phụ thuộc thì tù đạo mán Bôi Bồn và mán Thanh Xa, đều tranh nhau đến triều yết, dâng nộp phẩm vật địa phương. Chỉ có một nghịch tặc tên là Bổng cố giữ thói u mê, sợ bị tội lỗi, không đến triều yết ngay. Tháng quý đông ( tháng 12 âm lịch ), hoàng đế đóng ngự doanh ở cánh đồng Cự Đồn thuộc Mật Châu, hạ lệnh cho các tướng cùng binh lính man di kéo vào nước ấy, tên nghịch tặc Bổng nghe tiếng chạy trốn, bèn hạ chiếu đem quân về”. ( theo Cương Mục )

Mùa xuân năm 1336, Thượng hoàng Trần Minh Tông đem đại quân về đến kinh đô Thăng Long. Thắng lợi trong cuộc chiến với mường Xiêng Khoảng xứ Ai Lao tuy không trọn vẹn nhưng cũng giúp cho Đại Việt duy trì được một vùng đệm phía tây yên ổn, tạo điều kiện cho các châu Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hoa phát triển ổn định. Cho đến cuối thời Trần, dân cư Thanh Nghệ đã trở nên đông đúc. Đây là tiền đề quan trọng cho công cuộc quật khởi của Đại Việt trong thời thuộc Minh.

Về cuộc chiến này, một số bộ sử lớn thời phong kiến như thường chép nhầm lẫn thành hai cuộc chiến. Trong đó một trận vua Trần Minh Tông đánh lui quân Ai Lao rồi khắc đá ghi công và rút quân, một trận Đoàn Nhữ Hài bị tử trận rồi quân Đại Việt rút quân. Sau này khi đối chiếu mốc thời gian trên bia đá mà Thượng hoàng Trần Minh Tông cho khắc với chuỗi sự kiện, các sách sử, tài liệu đương đại mới nắm rõ hơn và biên chép lại. Thực chất chỉ có một cuộc chiến kéo dài từ mùa thu năm 1335 đến đầu năm 1336.

(1) : Nghĩa là nước Việt to lớn và tươi đẹp.

(2) : Nhạc lễ dành cho dịp trọng đại thời nhà Trần. Theo lệ chỉ có chức Hành Khiển được dùng nhạc Thái Thường để tế, bấy giờ đặc cách cho Thiên Hư.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *