I. THẾ SƠN THỦY TỰ NHIÊN – MẠCH TRỜI ĐÃ ĐỊNH
Trường Sơn Nam chia hai mạch lớn:
– Một mạch từ Khánh Hòa lên Buôn Ma Thuột,
– Một mạch từ Quy Nhơn lên Gia Lai – Chư Sê.
Hai tuyến tưởng gần mà khác hẳn về địa vận:
- Khánh Hòa – Đắk Lắk đi qua dãy Khánh Vĩnh – M’Đrắk – Ea Kar,
núi dựng như tường, đèo cao, sông suối cắt ngang –
địa thế hiểm, khí mạnh nhưng tán nhanh. - Quy Nhơn – An Khê – Pleiku – Chư Sê,
lại men theo sông Kôn và thung An Khê,
đèo tuy có nhưng thấp và thoải,
đất bằng, khí hòa, long mạch không bị đứt.
Tự nhiên đã định:
– Một bên là đường rồng bay,
– Một bên là đường rồng trèo đá.
II. LUẬN KHÍ ĐẠO: ĐƯỜNG QUY NHƠN – CHƯ SÊ LÀ LONG HỒI SINH KHÍ
Khí phong thủy khởi từ biển Quy Nhơn,
theo sông Kôn mà vào đất,
qua đèo An Khê thấp thoải như yên ngựa điều khí,
rồi trải ra Pleiku, Chư Sê, Đắk Pơ –
nơi sơn nguyên mở phẳng, khí trường lan xa.
Đường này thuận theo chiều thiên khí,
tức hướng Đông Nam – Tây Bắc,
gió biển nhập sơn, mưa núi thoát ra,
âm dương tuần hoàn, khí vận lưu thông.
Đất dốc nhẹ mà êm,
đèo ngắn mà thuận,
đó là “long đạo hồi sinh khí”,
đường của dân sinh, của thương đạo, của văn vận.
Chư Sê là đích cuối của trục ấy,
nằm trên vùng đất trung hòa –
khí tụ mà không nghẽn, thủy tán mà không loạn.
Ấy là nơi rồng nghỉ, không phải nơi rồng leo.
III. LUẬN HÌNH THẾ: KHÁNH HÒA – ĐẮK LẮK LÀ LONG PHÁ SƠN CỐC
Đường từ Khánh Hòa lên Buôn Ma Thuột
phải vượt dãy Khánh Sơn, Khánh Vĩnh,
rồi băng qua các thung M’Đrắk – Ea Kar.
Toàn tuyến gập ghềnh, dốc gắt, núi cắt sâu,
lại đi ngược chiều gió biển –
đó là đạo ngược khí thiên.
Trời sinh vùng ấy làm tường giữ hơi cho Nam Trung,
chứ không phải làm lối thông vận.
Khi con người mở đường xuyên qua,
tuy được lợi thương,
nhưng về phong thủy, đó là đạo long bị chẻ,
khí sơn phân tán, khó giữ độ bền lâu.
Đèo cao – hẻm sâu – sơn cốc dài,
như đường gươm chém vào thân long,
vận khởi nhưng hao,
sức mở nhưng mệnh mòn.
IV. LUẬN ĐỊA CỤC: CHƯ SÊ – QUY NHƠN LÀ TRỤC THUẬN KHÍ QUỐC GIA
Từ Chư Sê nhìn ra Quy Nhơn,
là một đường thẳng mềm,
men theo sông Ba, sông Kôn –
đều là thủy mạch chính của Nam Trung.
Nếu định tuyến giao thương Đông – Tây,
thì trục Quy Nhơn – An Khê – Pleiku – Chư Sê
là long mạch tự nhiên, thuận thiên vận hành,
có thể trở thành quốc lộ chiến lược, trục sinh khí quốc gia.
Trái lại, đường Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột,
là trục phá sơn để giao thương,
hợp cho chiến lược phòng thủ – vận tải – công nghiệp nặng,
nhưng không nên xem là “địa đạo trung tâm”,
vì khí long ở đó đang bị bức – không tụ.
V. LUẬN THEO HÀO KHÍ TÂY SƠN – ĐỊA ĐẠO PHẢI PHỤC KHÍ
Người Tây Sơn xưa hiểu đạo đất:
họ đóng quân ở Tây Sơn – An Khê,
đi Quy Nhơn như về cửa nhà,
vì con đường ấy là đường thuận khí trời.
Không cần leo đèo, không qua vực,
vận binh nhanh, điều thương dễ,
đất bằng mà khí cao,
đó là “huyệt hành đạo của quân và thương”.
Bởi vậy,
trong mắt phong thủy đại địa,
Quy Nhơn – An Khê – Chư Sê là trục sống thuận thiên,
còn Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột là trục mở nghịch khí – có lợi chiến lược,
nhưng phải trả giá bằng sinh lực đất.
VI. KẾT LUẬN – ĐỊA KHÍ QUỐC ĐẠO
“Đường thuận khí sinh dân,
Đường nghịch khí hao đất.
Biển sinh tài, núi sinh đức,
Đạo trời là dung, không là phá.”
Nếu hiểu đạo này,
quốc kế dân sinh nên lấy Quy Nhơn – Chư Sê làm trục sinh khí Đông – Tây,
lấy Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột làm trục phòng sơn – kỹ vận Bắc Nam.
Khi hai trục hợp thành chữ “十” (thập) trên đại đồ Trường Sơn,
thì Việt Nam sẽ có một trục thở và một trục đứng,
giữ mạch trời, nối vận biển, điều hòa quốc khí.
MINH TỰ
“Quy Nhơn thuận khí mà sinh,
Khánh Hòa nghịch sơn mà mở.
Một nuôi dân, một giữ nước,
Cùng hợp vận Trời Nam.”