NAM VĂN NỮ THỊ
– Văn xuất phát từ tục “văn thân”, tức “xăm mình”. Các văn bản đáng tin như Sách “Lĩnh Nam chích quái” (phần “Hồng Bàng thị truyện”), Đại Việt sử ký toàn thư, Từ điển lễ tục Việt Nam,… đều có gi nhận người Việt cổ (2.000 – 3.000 năm trước) có tục lệ xăm mình. Họ xăm hình những con thủy quái (rồng, rắn…) lên bụng, ngực, lưng, chân, tay. Tương truyền, thuở xa xưa con người lặn lội vùng sông nước kiếm ăn, nên xăm hình lên người để không bị thủy quái làm hại và hòa nhập với động vật ở dưới nước, từ đó mới săn bắt được chúng. ( cái này mình có nói ở bài lần trước về TỤC XĂM MÌNH )
Đến thời Lý, Trần, tục xăm mình vẫn rất thịnh. Đặc biệt thời Trần, những thành viên thuộc đội quân Thánh Dực bảo vệ xa giá sẽ được xăm lên trán ba chữ Thiên Tử Quân (Quân đội Thiên tử). Nghệ thuật này còn được thấy rõ rệt dưới triều đại này với việc xăm hai chữ “Sát Thát” trong thời kỳ kháng chiến chống Nguyên Mông. Điểm chung của những người xăm mình, bao gồm người xuống sông suối đánh bắt cá và cả quân đội, là họ đều là nam nhân. Cho đến mãi thế kỷ XX thì trong nội bộ người Việt, xăm mình vẫn chỉ có đàn ông. Do đó, xăm mình là một nét đặc trưng của đàn ông người Việt thời xưa và đặc trưng này đã được đưa vào tên họ của họ. Nguyễn văn An là người đàn ông họ Nguyễn tên An có xăm mình, Trần văn Bình là người đàn ông họ Trần tên Bình có xăm mình. Cứ như thế, nó thành thông tục đặt tên cho đàn ông dẫu có xăm hay không.
– Về phần Thị, đây là một từ Việt gốc Hán, chữ Hán viết là 氏. Đây là tiếng dùng để chỉ phụ nữ. Các từ điển chuyên môn (Từ nguyên, Từ hải) đều viết “phụ nhân xưng thị” (đàn bà gọi là thị). Thị cũng là một từ mà phụ nữ dùng để tự xưng. Đôi khi, “thị” còn là tiếng dùng để chỉ người phụ nữ ở ngôi thứ ba và thường dùng với ý coi khinh, rẻ rúng. Tụi mình nhớ trong truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân thì tác giả đã dùng “thị” để gọi nhân vật vợ nhặt.
Nói chung, thị có nghĩa là đàn bà. Nhưng do đâu mà nó trở thành tên đệm của phụ nữ? Ngày trước, người ta thường dùng chữ “thị” đặt sau họ của người phụ nữ đã có chồng, thường thêm họ chồng vào trước họ cha để xưng hô” (Phóng tại dĩ hôn phụ nữ đích tính hậu, thông thường tại phụ tính tiền gia phu tính, tác vi xưng hô). Thí dụ: Phạm Lê thị là “người đàn bà mà họ cha là Lê còn họ chồng là Phạm”. Đây là cách gọi thông thường của người Hán.
Người Việt xưa đã không làm y hệt theo cách trên đây của người Hán mà chỉ đặt “thị” sau họ của cha rồi thêm tên riêng, theo kiểu Nguyễn thị Cúc nghĩa là người đàn bà có cha họ Nguyễn tên riêng là Cúc. Lý thị Mai là người đàn bà có cha họ Lý tên riêng là Mai.
Cần lưu ý là, theo cách gọi này thì tên người đàn ông trên là Nguyễn An, Trần Bình, phụ nữ thì là Nguyễn Cúc, Lý Mai, văn hay thị không phải là tên mà từ chỉ định. Nếu các bạn quen biết những người lớn tuổi, có thể các bạn sẽ thấy cách viết tên Nguyễn văn An, Nguyễn thị Cúc là bởi văn và thị vốn không phải tên riêng nên không cần viết hoa. Các viết này lan sang cả các cách viết tên không theo hướng nam văn nữ thị, như Nguyễn trung An, Nguyễn hoa Cúc. Dù rằng cách viết này ngày nay rất hiếm thấy.