NGƯỜI NHẬT VÀ XỨ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ 16 ĐẦU THẾ KỶ 17 “NGHÈO” TÀI NGUYÊN TRONG MẮT GIÁO SĨ ALESSANDRO VALIGNANO P3 VÀ HẾT
Được nghe nhiều, biết nhiều về người Nhật Bản nên mặc dù đôi khi không khỏi có những phẫn uất, bất bình nhưng nhìn chung giáo sĩ Alessandro Valignano luôn coi trọng và đánh giá cao những phẩm chất cao quý, giàu lý trí, trang nhã, khiêm nhường của người Nhật Bản. Thực ra, trước giáo sĩ Alessandro Valignano, nhiều nhà truyền giáo, thương nhân (người châu Âu) đã có những nhận xét đầy thiện cảm về phẩm cách của cư dân ở đây. Cha Sant Francis Xavier (1506 – 1552), người đã nhiều năm sống ở Nhật Bản cũng cho rằng, dân tộc này rất thiện chí, thực sự hòa hợp, ham tìm hiểu những điều mới lạ. ….”. Năm 1561, giáo sĩ Juan Fernandez khi viết về người Nhật Bản cũng cho rằng họ rất có khả năng, trí nhớ tốt hơn người Tây Ban Nha. Năm 1584, Mexia, người đi cùng với giáo sĩ Alessandro Valignano đến Nhật Bản lần đầu tiên rồi sau đó ông trở về truyền giáo ở Macao cũng viết: “Bởi vì người Nhật Bản ngủ và ăn ít cho nên họ có sự phán xét và trí thông minh tuyệt vời, họ học chữ của chúng ta không đến hai tháng. Họ là những người có năng lực trí nhớ siêu việt, bất cứ cậu bé nào khi được nói qua một điều, dù điều đó là phức tạp, chúng đều lĩnh hội được chính xác, còn người lớn thì đã có thể truyền bá tư tưởng của chúng ta từ khi Cơ Đốc giáo mới du nhập đến như là chính họ đã trưởng thành trong môi trường đó vậy”.
Nãm 1583, sau hơn 3 năm sống ở Nhât Bản, trong bài viết có tên gọi là Sumario, một văn phẩm được coi là có giá trị nhất còn để lại của giáo sĩ Alessandro Valignano.
Ông đã nhận định về đất nước, con người Nhật Bản: 1. Đó là một nước lớn, mọi người đều da trắng, có văn hóa, thận trọng và đáng được thâu hóa;
2. Nhật Bản là nước phương Đông duy nhất, ở đó người ta theo Cơ Đốc giáo vì những lý do xác dáng;
3. Ở Nhật Bản, và chỉ ở Nhật Bản những người được cải đạo lại bao gồm cả những nhân vật cao quý;
4. Nhìn chung, người Nhật Bản có thiên hướng tôn giáo và những nhà tu hành Phật giáo rất được kính trọng. Chúng tôi, những người nói về niềm tin chân lý, với sự chính trực, khả ái của mình hẳn sẽ được kính trọng cao hơn…”.
Đã từng có dịp sống, giao tiếp với nhiều cộng đồng dân cư, nhiều dòng văn hóa. giáo sĩ Alessandro Valignano luôn luôn có cái nhìn so sánh về phẩm chất vốn có trong mỗi dân tộc. Trong các dân tộc ở châu Á, ông đánh giá cao bản tính, nhân cách, văn hóa của người Trung Hoa và người Nhật Bản. Cũng trong Sumario, ông nhận xét: “Người ở đây tất cả đều trắng, rất có văn hóa, ngay cả tầng lớp bình dân cũng như nông dân đều được nuôi dưỡng cẩn thận và hết sức lịch thiệp với nhau, có cảm giác như họ được nuôi dạy trong cung đình, họ đã chứng tỏ được sự hơn hẳn so với những người phương Đông khác ngoại trừ người châu Âu chúng ta. Họ là những người có khả năng nhận thức tốt, còn trẻ em thì rất có năng lực trong việc học tập tất cả những môn khoa học và luật định của chúng ta. Chúng có thể thuộc lòng, học đọc, viết ngôn ngữ của chúng ta còn dễ dàng, nhanh hơn trẻ em châu Âu. Thậm chí, các đẳng cấp thấp hơn cũng không thô kệch dốt nát như ở châu Âu; thực tế là ở hầu hết mọi vùng, họ là những người hiểu biết, được nuôi dưỡng chu đáo và có năng lực”.
Trong một tài liệu khác mang tên Principio, giáo sĩ Alessandro Valignano cũng có cái nhìn đầy thiện cảm: “Có thể thấy rằng, người Nhật Bản cao quý, tao nhã, lịch thiệp như thế nào. Không còn nghi ngờ gì nữa, không có dân tộc nào ở châu Âu lại có thể so sánh được với họ về các mặt đó”, ông đặc biệt đánh giá cao đội ngũ trí thức Nhật Bản, tuy rằng cũng có những han chế nhưng ưu điểm của họ là rất thông minh, ham học, có khả năng tự kiềm chế tuyệt vời, sự hòa nhập của họ trong cộng đồng, ở trường học, sự đúng mực và tính chấp hành kỷ luật của người Nhật đều giống như cách thức của người Âu”.
Tuy nhiên, giáo sĩ Alessandro Valignano cũng phát hiện ra những điểm yếu trong tư duy của người Nhật Bản về các lĩnh vực khoa học thực nghiệm, ông cho rằng: “Mặc dù người Nhật Bản rất thông minh, có trí nhớ tốt, nhưng vì cho đến nay họ vẫn chưa có các môn khoa học nên tư duy của họ không có được những nhận thức về các môn khoa học đó như người châu Âu. Nhưng vẫn có thể khẳng định chắc chắn rằng, họ có đủ năng lực để học các môn khoa học đó; thực tế là họ rất khéo tay, cần cù, khi viết họ dùng thỏi mực mài ra và bút, họ dùng nhiều bút với những nét viết nghiêm túc, ngón tay của họ thon thả, nhạy cảm và tự nhiên hơn chúng ta, họ học vẽ và viết chữ La Tinh thường là dễ dáng hơn người châu Âu”.
Bên cạnh những ưu điểm va nhược điểm dó. giáo sĩ Alessandro Valignano cho rằng, bản tính của người Nhật Bản không được tự nhiên, hay e dè, không rộng mở, không hay quan hệ giao tiếp và đôi khi họ cứ khư khư tuân theo những phong cách, phong tục riêng của minh và cho tất cả những điều đó là cao thượng”. Theo giáo sĩ Alessandro Valignano: “Người Nhật Bản có ý thức dân tộc và truyền thống văn hóa rất sâu sắc, tuy rằng lòng tự hào, tự tôn dân tộc đó của họ cũng đồng thời cho thấy những biểu hiện cực đoan. Người Nhật có tình cảm dân tộc mạnh mẽ, có ý thức duy trì phong tục của đất nước và đánh giá thấp về tất cả các dân tộc khác”.
Tuy nhiên, theo giáo sĩ Alessandro Valignano, trong điều kiện văn hoá bản địa và quan hệ xã hội chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ, cuộc sống của mỗi người dân Nhật Bản thì Cơ Đốc giáo không thể dễ dàng có được cơ sở xã hội sâu bền ở xứ sở này. Vấn đề là, bằng mọi cách phải đào tạo cho Giáo hội Nhật Bản một đội ngũ những nhà truyền giáo người bản xứ nhờ đó họ có thể dễ dàng giao hòa với đồng bào mình. Trong trường hợp chính sách cấm đạo được thực hiện khắt khe ở Nhật Bản thì họ cũng dễ dàng lẩn tránh vào cộng đồng dân cư hơn, ông nhận thức rõ ràng rằng: “Người Nhật Bản đầy kiêu hãnh và khôn ngoan nên họ không cho phép người nước ngoài thống trị họ. Vì thế, cách tốt nhất để thiết lập địa vị vững chắc của giáo hội ở Nhật Bản là huấn luyện người bản địa rồi từng bước giao cho họ được toàn quyền thực hiện sứ mệnh truyền giáo ở đây. Nên chọn ra một số thiếu niên tiêu biểu để đào tạo, phải cho họ học tiếng La Tinh và làm quen với cuộc sống của người châu Âu”. Theo ông “Điều đó là cần thiết, vì không sớm thì muộn, sứ mệnh của giáo hội ở Nhật Bản sẽ không thể duy trì được nếu không chấp nhận người Nhật và giúp đỡ họ trở thành các linh mục. Bởi vì, họ sống trên các hòn đảo, rất xa xôi với các nền văn hóa khác và người bản địa ở đây bị khuôn trong những phong tục của họ cũng như trong sự giao tiếp với bên ngoài. Đặc điểm, điều kiện của họ rất khác với chúng ta ở châu Âu, nếu như không có một số người được cử sang châu Âu để học tập một thời gian thì chắc chắn người Nhật sẽ không đem lại những kết quả như chúng ta mong muốn hoặc sẽ không tiếp thu được linh hồn thực sự của giáo hội chúng ta hoặc họ sẽ không có được sự ngưỡng vọng và kính trọng cần thiết về những gì mà châu Âu có. Nhưng nếu như chúng ta thỉnh thoảng cử một số người đến châu Âu thì chúng ta có thể trông chờ vào họ. Người Nhật sẽ có những nhận thức đúng và khả năng tốt, họ sẽ trở nên từng bước hòa nhập và đồng điệu với chúng ta”.