NHÀ TRẦN VÀ VIỆC ĐẮP ĐÊ – CÔNG LAO NHẤT THỜI, SAI LẦM THIÊN NIÊN KỶ
Trong nhiều sách sử truyền thống cũng như hiện tại, người ta thường khen ngợi việc tu bổ đê điều, đắp đê ngăn lụt của triều Trần là một việc làm thể hiện sự quan tâm đến nông nghiệp giúp cho đời sống nhân dân phát triển. Trong sách giảng dạy học sinh tiểu học có dành cả một bài giảng Nhà Trần Và Việc Đắp Đê với lời lẽ khen ngợi. Nhà Trần đặc biệt quan tâm đến việc đắp đê, bổ dụng các quan Hà đê sứ để trông coi, điều động nhân dân theo định kỳ phải tu bổ cho đê điều. Nhưng ở khía cạnh khoa học, thủy lợi thì liệu việc này có thực sự là việc làm đúng ?
Sách Đai Việt Sử Ký Toàn Thư chép về khởi nguồn việc đắp đê quai vạc :
“Tháng 3 ( 1248 ), lệnh các lộ đắp đê phòng lụt, gọi là để quai vạc, từ đầu nguồn đến bờ biển, để ngăn nước lũ tràn ngập.
Đặt hà đê chánh phó sứ để quản đốc. Chỗ đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền. Đắp đê quai vạc là bắt đầu từ đó.”
Như chúng ta đã biết, đê điều có tác dụng ngăn lũ lụt là điều không phải bàn cãi. Những trận lũ lụt do triều cường tự nhiên có thể tàn phá những trung tâm nông nghiệp, có lẽ là động lực khiến các triều đại phong kiến Việt Nam tích cực đắp đê quai vạc. Việc này trong ngắn hạn một hai thế kỷ có thể giúp cho nông nghiệp phát triển ổn định, tránh những rủi ro do thiên tai mang lại cho nông nghiệp. Dưới thời Trần, nông nghiệp nước ta phát triển ổn định làm tiền đề cho sự thịnh vượng của triều đại này. Tuy nhiên, khi tách đồng bằng khỏi chính con sông tạo ra nó, thì sự màu mỡ do phù sa đem lại sẽ giảm dần theo thời gian. Đó là một lý giải cho sự thoái hóa đất đai ở đồng bằng sông Hồng. Bởi thế nên đến thời hiện đại, năng suất của đồng bằng sông Hồng không thể sánh được với đồng bằng sông Cửu Long, một vùng đồng bằng được khai phá muộn màng nên ít chịu ảnh hưởng của đê điều.
Chuyện đê điều thì nguyên nhân sâu xa là suốt 1000 năm “ văn minh lúa nước” mà người VN vẫn ko hề có 1 nền giáo dục nào đào tạo về kỹ thuật đê điều ( hay có mà ko còn tư liệu?).
Thay vào đó, nhà nhà, người người chúi mũi vào ông Thánh Hiền. Dẫn đến kết quả là không cần cải đạo Tây mà cả đám đã chuẩn bị về nước Chúa ráo. Đây là lỗi tại ai?
Từ đời Minh Mạng, vấn đề xử lý đê điều miền Bắc đã được đặt ra nhiều lần rồi. Nhưng cả triều đình họp lại thì hỡi ơi, thành phần tham gia toàn những kẻ nấu sử sôi kinh đâu đâu thời Hán-Đường, quanh quẩn bàn nên bỏ hay giữ đê mãi không hồi kết. 1 đám xuyên không như vậy thì hỏi sao Minh Mạng phải treo bảng hỏi ý kiến dân chúng ( mà dân cũng nào có biết gì hơn?). Trong khi đó, muốn xử lí lũ lụt ở miền Bắc cần ko chỉ 1 nền kỹ thuật đê điều tầm cỡ, mà còn cần 1 số vốn không nhỏ cho 1 dự án khổng lồ.
Nhưng mà 1,3 tr mẫu bỏ hoang thì… Cả đồng bằng sông Hồng theo Nhất Thống Chí cũng chỉ 2,5 tr mẫu. Nếu bảo 2,5 tr này đã tính cả số ruộng bỏ hoang thì mức độ hoang tàn của nông nghiệp miền Bắc thật là khủng khiếp.
Tàn đến độ này mà ông Đảm vẫn liều mạng đi Trấn Tây? Hay là bí quá làm liều?
Tác hại thứ hai mà đê quai vạc đem lại mà nhiều người ngày nay vẫn đổ lỗi cho chính quyền hiện tại chính là ngập lụt cục bộ. Theo quy luật thông thường, mưa lớn thì nước sẽ chảy về hướng thấp ra ao hồ, sông ngòi. Nhưng đối với Hà Nội và đồng bằng sông Hồng thì không như vậy. Hà Nội rất dễ bị ngập lụt do nước mưa khi mà sông Hồng vẫn còn khả năng điều tiết nước. Trong bài báo Trận lụt lịch sử và mặt trái của đê điều, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã chỉ ra : ” …dưới sông đang cạn mà nước trong đồng thì lại quá đầy. Trớ trêu là nước trong phố trong đồng lại không thể chảy xuống sông Hồng và các sông khác để trôi ra biển ! Vì sao ? Chính vì các con đê đã có từ hàng mấy trăm năm nay ! …” Ấy là chưa kể đến các sự cố vỡ đê. Vì cả một hệ thống sông chỗ nào cũng đắp đê nên áp lực nước rất lớn. Nếu trong vùng có nơi nào đó vỡ đê, lưu lượng nước toàn vùng lớn sẽ đổ về một vùng nhỏ, gây nên thảm cảnh. Lật lại các thống kê lịch sử sẽ thấy rằng số lần vỡ đê, lụt lội tăng dần theo thời gian cùng với sự phát triển của hệ thống đê sông Hồng. Nếu như trong thời Lý – Trần chỉ ghi nhận dăm ba lần lụt lội, thì trong thời Nguyễn có đến 52 năm vỡ đê, lũ lụt theo ghi nhận của Đại Nam thực lục.
Sự thoái hóa đất đai và lũ lụt cục bộ là một lý giải khác cho sự suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam từ cuối thời Lê cho đến thời Nguyễn mất nước. Trong khi đất đai nông nghiệp đã thoái hóa mà không có những công nghệ canh tác hiện đại, đời sống người nông dân dễ bị tổn thương hơn. Những vùng đất đã đắp đê thì đất ruộng xấu, những vùng đất chưa đắp đê ở sông Hồng thì ruộng màu mỡ nhưng lại biến thành cái rốn lũ. Khi chúa Nguyễn xây dựng lên một vương quốc trù phú từ những vùng đất mới khai phá, thì đồng bằng sông Hồng chìm trong cảnh mùa màng thất bát, lũ lụt đói kém dẫn đến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân. Đất đai và dân số Đàng Trong ít hơn đất Đại Việt cũ nhiều, nhưng Đàng Trong vẫn nghiễm nhiên trở thành thế lực mạnh mẽ trong khu vực, đương đầu với họ Trịnh ở phía Bắc cũng là nhờ việc ruộng đất mới ở miền nam được khai phá cho năng suất rất cao. Rồi khi vương triều nhà Nguyễn thành lập, tình trạng loạn lạc đói kém ở miền Bắc đã ngốn rất nhiều quốc lực Việt Nam. Thời vua Gia Long, nhà vua đã xuống chiếu cho quan lại Bắc Thành điều nghiên để cân nhắc lợi hại của việc bỏ đê hay tiếp tục đắp đê, nhưng việc nghiên cứu này dường như đã không cho kết quả nên triều Nguyễn vẫn noi theo các triều trước tiếp tục đắp đê, như một giải pháp để ngăn lũ lụt. Đến thời vua Tự Đức, lịch sử đánh giá là thời đại loạn mà xét ra vua Tự Đức không đến nỗi là ông vua tàn ác, lười biếng hay hoang phí. Ấy là bởi đời sống nông dân cơ cực nên rất nhạy cảm với những biến động, dễ bị kích động bởi các thế lực chống đối. Theo ghi nhận của sách Quốc triều điển lệ lược biên, thập niên 30 thế kỷ 19 có đến 1.314.927 mẫu ruộng hoang ở miền bắc, mặc cho chính sách khuyến khích khai hoang của triều Nguyễn vẫn tiến hành. Cùng với sự cộng hưởng của các yếu tố khác như là tình trạng địa chủ thao túng ruộng đất, dư đảng giặc cướp Trung Quốc tràn sang, các thế lực phong kiến đòi khôi phục nhà Lê … miền Bắc Việt Nam cuối thế kỷ 19 trở thành một vùng loạn lạc tàn khốc.
Đánh giá về sự sai lầm về dài hạn trong việc đắp đê quai vạc thời nhà Trần, ngay chính trong sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đời nhà Nguyễn đã nhận xét : “Một lần thất sách, để tai hại về sau không biết chừng nào !”. Biết là thất sách vậy nhưng từ thời nhà Nguyễn đến nay vẫn chưa ai có thể tìm ra giải pháp để thay đổi. Nguyễn Trường Tộ cuối thời Nguyễn từng chỉ trích triều đình khi vẫn theo phép các triều trước đắp đê quai vạc, còn người Pháp toan phá bỏ hệ thống đê nhưng rồi lại thôi. Bởi vì nếu phá bỏ các đê quai vạc sẽ gây xáo trộn về thủy lợi rất lớn ở đồng bằng sông Hồng mà chưa ai có thể đánh giá hậu quả của nó.
Xem ra, việc đắp đê quai vạc thời Trần đem lợi trước mắt cho triều đại, nhưng lại dẫn đến tai hại muôn đời cho con cháu. Thực khó mà ca ngợi như một công trạng của triều đại. Ngày nay, có lẽ chúng ta cần xem xét một cách nghiêm túc nhất về vấn đề thủy lợi, đê điều ở đồng bằng sông Hồng. Rộng hơn nữa, mọi việc làm tác động lên sông ngòi tự nhiên ở Việt Nam hiện nay cần phải có một tầm nhìn xa. Tầm nhìn đó không chỉ là trong một vài nhiệm kỳ, mà phải là giải pháp muôn đời cho con cháu chúng ta.