Bàn về BIỂU CẦU HÔN của vua Quang Trung gởi cho vua Càn Long

Bàn về BIỂU CẦU HÔN của vua Quang Trung gởi cho vua Càn Long

Lâu ngay, chúng ta thường áp tinh thần tự tôn dân tộc thái quá vào nghiên cứu lịch sử. Khi nói về những nhân vật hiển hách của nước ta thường gán cho họ một hình tượng ngang tàng, chẳng thèm nể nang gì Trung Hoa mà sẵn sàng đánh nhau tới cùng. Lâu lâu có ai phản biện lại lý lẽ ấy thì sẽ bị coi là hèn kém, nhu nhược. Thực tế, những bậc minh quân thời xưa đều biết mình biết người, biệt dựa theo thời thế mà tiến thoái. Cha ông ta khi bang giao với các quốc gia phương bắc luôn tự nhận là nước nhỏ, ứng xử với Trung Hoa theo phép trên dưới. Ấy không phải là vua chúa nước ta không anh hùng, mà chính là họ thương nhân dân bách tính, không nỡ vì cái danh dự nhỏ mà ném dân tộc và chiến tranh. Ví như vua Quang Trung – Nguyễn Huệ, người từng đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh, lại còn toan chiếm đất Lưỡng Quảng thì chắc mọi người vẫn nghĩ vua Quang Trung đối với Thanh triều phải hé ra lửa, phải ăn nói ngang ngửa hoặc bề trên ??? Nhưng không. Ngài đối với vua Càn Long rất khiêm nhường trong ứng xử. Chấp nhận cho người đóng giả mình sang chầu vua Càn Long. Vua Quang Trung cũng chấp nhận cầu phong của Thanh triều. Mặc dù lời lẽ mềm mỏng, nhưng đó là cách giữ lễ mà thôi. Chứ mỗi hành động ngoại giao của Quang Trung đều dựa trên thế lực hùng cường đương thời của vương triều Tây Sơn. Sau đây xin giới thiệu BIỂU CẦU HÔN của Quang Trung gởi cho vua Càn Long, được ghi trong sách 13 Biên Khảo Về Nhà Tây Sơn. Lời biểu sẽ cho ta thấy văn phong thời bấy giờ dùng trong ngoại giao như thế nào :

” Thần là kẻ áo vải, được nhờ ơn cả, lạm giữ cõi Nam. Từ khi vào triều cận nơi cung khuyết (Phạm Công Trị giả vua Quang Trung vào chầu Càn Long năm 1790) đã được đặc cách làm lễ bảo kiến vấn an. Lại được ban thưởng trọng hậu, ân sủng dồi dào. Phàm là việc mà cõi phương Nam từ xưa nay chưa ai từng được ưu hậu như thần cả.

Ðến khi thần về nước, lại được đặc ân mọi bề, cấp ban thánh chỉ, ơn cao lồng lộng của nhà vua thật không sao kể ra cho xiết ! Thần là kẻ nhỏ nhoi ở nơi hẻo lánh xa xôi chẳng ngờ lại được hưởng ân lộc đến thế ! Tấm lòng canh cánh ngày đêm mong sao sớm được đền đáp. Song thần chưa có dịp để thực hiện.

Chỉ mong được thường gõ cửa trời, gần nhìn bóng nhật, nhưng ở phương xa, núi sông cách trở. Sức muốn làm nhưng không được như ý. Hễ qua khỏi cửa ải Nam Quan thì thân cũng hóa thành sơ.

Thần những mơ tưởng khúc nhạc quân thiều, ngóng trông vân hán, hằng e mình rồi cũng đến như hạng tầm thường, bị liệt ra ở ngoài vòng thanh giáo làm phụ lòng công ơn trời bể của Thánh từ! Trộm nghĩ, thánh nhân tỏ lòng giúp đỡ phiên thần để nối lại chỗ sơ thành ra thân thiết, phần việc đều cư xử như đạo xưa.

Nước thần ban đầu, vua Kinh Dương Vương chịu mệnh nơi Viêm Ðế, bà Âu Cơ kết duyên cùng vua Lạc Long. Tổ nước Văn Lang mở cõi Giao Chỉ, trăm trai nối dõi, từng làm phên dậu phía Nam, may nhờ phúc ở Trung Hoa, được nổi danh là văn hiến thế đại, dẫu đã xa nhưng sử sách còn đủ để khảo xét.

Từ khi nhà Tống dấy lên, ràng buộc nước thần, nên mới ra ngoài vòng đức hóa, không liệt vào hạng minh đường, chỉ để như hạng hành bộc khác mà thôi. Nhà Thanh ta được trời quyết cố, rộng đến muôn phương, chỗ nào có bóng mặt trời soi đến đều coi muôn dân như chung một bọc, như con một nhà.

Kính nghĩ, Ðại Hoàng đế Bệ Hạ đức ngang với trời đất, đạo cao hơn vua Hiên vua Nghiêu, vỗ về cho chư hầu mến phục, dịu dàng cho người xa hướng về không phải là kiểu tầm thường như các triều đại gần đây. Thần lạm được thánh thượng coi như con ruột, liệt vào hạng thân vương. Phận này, dù tận nơi xa khuất, nhưng tình ấy vẫn kể như vô cùng.

Thiết nghĩ, muôn vật đều không giấu mình được với trời đất. Con cái không thể giấu được tính với mẹ cha, thì chuyện riêng của gia đình cũng không dám che dấu được với bậc chí tôn. Mới đây, nhà thần gặp việc không may (Mẹ vua Nguyễn Thị Ðồng mất năm 1790, Chánh cung họ Phạm mất năm 1791), thiếu người giữ việc chăm lo hương khói. Trên nền xây dựng phong hóa cũng thiếu người đỡ đần. Vậy muốn núp dưới bóng cây ngọc để bám vững vào gốc dân.

Ngưỡng trông thánh triều phát tích từ nơi Trường Bạch, mang đến phúc lành cho con cháu hàng ngàn hàng ức, nối đời phồn thịnh. Lâu nay cứ việc là vua thì chọn những nơi quí hiếm để gả Công chúa chứ không có lệ lập hôn đến các phiên thần ở cõi phương xa. Phép luật đã nghiêm nhặt như thế, thì làm sao có thể vươn tới cành ngọc cho được, chỉ vì một nỗi niềm riêng tư trông ngóng, việc cứ trăn trở mãi không thôi.

Ngẫm mong cành ngọc nhà trời lan rộng đến mọi chốn mọi nơi, ngõ hầu thần được hưởng phúc lành theo dấu gót lân, đem phong hóa quan thư ban ra cho mọi lẽ, những việc tề gia thuận thảo ở chốn gia đình sẽ là mẫu mực để dân trong nước học theo. Tập làm quen với nề nếp chốn Trung Hạ, gạt bỏ thói cũ, khiến thần dân trong nước thỏa niềm ước mong của vòng đức, hóa, cao sang. Mong sao dòng dõi của thần, đời đời được giữ mãi làm phiên phong, hưởng mọi sự tốt lành ! Ðó là điều mong lớn nhất của thần !

Do ở phương xa lại có việc xảy ra bất trắc nên thần đã bàn với bầy tôi, ai cũng không dám, nhưng vì thần mà họ đề nghị phải làm. Cửa vua muôn dặm, trông ngắm đăm đăm. Nay đành đánh bạo mà làm, tự nghĩ cũng cần nên cân nhắc, nhưng vì tỏ lòng thành kính, sai kẻ bồi thần sang xin triều kiến thay mặt thần, họ sẽ nói lên nỗi lòng thần muốn bày tỏ.

Mong sao cho được đấng anh minh rủ thương, xét cho thần vì tấm lòng chân thành, trìu mến, tha thứ cho thần những lời mạo muội, táo bạo trong việc xin cầu hôn. Thần ở biển Nam, ngóng trông sao Bắc xin kính chúc thánh thiên tử sống lâu muôn tuổi, mãi mãi là cha mẹ của dân vạn nước.

Thần xiết bao lo lắng, ngóng mong ! “

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *